Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch
Trường cao đẳng du lịch hà nội
Việt Nam English
20/07/2026

Kiến tạo "Hạ tầng văn hóa số": Định hình văn hoá Việt Nam trên không gian số

Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 09/7/2026 về Hạ tầng văn hóa số được Chính phủ ban hành sẽ mở ra một không gian mới cho văn hóa Việt Nam - nơi mỗi người Việt gìn giữ, sáng tạo và thụ hưởng các giá trị tinh thần trong lòng thế giới công nghệ.
 


Với 5 chương, 20 điều, Nghị định đặt nền móng ban đầu cho việc phát triển hạ tầng văn hoá số, chính thức “khai sinh” nhiều nội dung quan trọng cho phát triển văn hoá; sản phẩm, dịch vụ văn hoá số và công tác quản lý nhà nước về văn hoá.

Hạ tầng văn hoá số là hạ tầng chuyên ngành trong lĩnh vực văn hoá, phục vụ hoạt động văn hoá trên môi trường số. Nếu như hạ tầng giao thông kết nối con người và hàng hoá, hạ tầng số kết nối dữ liệu và tri thức, thì hạ tầng văn hoá số kết nối bản sắc văn hóa Việt Nam với sáng tạo, kinh tế và sức mạnh mềm quốc gia.

Hệ thống hạ tầng này mang tính đồng bộ và liên thông cao, được dùng chung, gắn kết để phát triển cho cả lĩnh vực du lịch và lĩnh vực thể thao. 



Dù là một văn bản pháp lý mang tầm vĩ mô, Nghị định về Hạ tầng văn hóa số được ban hành để giải quyết những bài toán vô cùng thực tế, tạo ra nền tảng làm lợi trực tiếp cho mọi thành phần trong xã hội: 

1. Bảo tồn di sản trong bối cảnh biến đổi nhanh

Hiện nay, nhiều giá trị văn hóa đang đứng trước nguy cơ mai một do tác động của thời gian, thiên tai, quá trình đô thị hóa và sự thay đổi của đời sống xã hội. Trước thực trạng đó, hạ tầng văn hóa số đóng vai trò then chốt giúp: (i) Số hóa hiện vật, di tích, tư liệu, nghệ thuật biểu diễn; (ii) Lưu trữ lâu dài theo chuẩn quốc tế; (iii) Phục dựng bằng AI, 3D, XR khi hiện vật bị hư hỏng; và (iv) Tạo “bản sao số” (Digital Twin) của di sản. Nhờ có những giải pháp công nghệ này, các giá trị văn hóa sẽ không bị mất đi ngay cả khi hiện vật gốc bị hủy hoại.

2. Mở rộng khả năng tiếp cận văn hóa

Trước đây, để thưởng thức và tìm hiểu văn hóa, người dân bắt buộc phải đến trực tiếp bảo tàng, thư viện hay nhà hát. Giờ đây, khi có hạ tầng văn hóa số, mọi người đều có thể dễ dàng tham quan bảo tàng trực tuyến; học nghệ thuật trên nền tảng số; xem các chương trình biểu diễn chất lượng cao và tra cứu di sản ở bất cứ đâu. Qua đó, văn hóa chính thức trở thành một dịch vụ công số phục vụ toàn dân.

3. Tạo nguyên liệu cho AI và kinh tế sáng tạo

Trong thời đại AI, dữ liệu được ví như nguồn nguyên liệu cốt lõi. Nếu muốn AI hiểu được chiều sâu văn hóa Việt Nam, chúng ta cần phải cung cấp cho hệ thống một kho dữ liệu tiếng Việt; dữ liệu di sản; dữ liệu nghệ thuật; dữ liệu lễ hội; dữ liệu âm nhạc; dữ liệu trang phục; dữ liệu mỹ thuật, v.v…. Ngược lại, nếu không có hạ tầng dữ liệu văn hóa của riêng mình, AI sẽ phải học chủ yếu từ dữ liệu nước ngoài và rất khó để phản ánh chính xác bản sắc Việt Nam.



4. Thúc đẩy công nghiệp văn hóa

Tất cả các lĩnh vực từ phim, trò chơi điện tử, hoạt hình, âm nhạc, thiết kế cho đến quảng cáo, xuất bản… đều cần nguồn "vốn" dữ liệu văn hóa làm bệ đỡ. Một hạ tầng văn hóa số vận hành tốt sẽ giúp các doanh nghiệp khai thác dữ liệu hợp pháp; tái sử dụng tài nguyên số; từ đó giảm chi phí sáng tạo và phát triển thêm nhiều sản phẩm mới. Hạ tầng văn hóa số vì vậy giống như đường cao tốc của ngành công nghiệp văn hóa.

5. Xây dựng thương hiệu quốc gia

Ngày nay, sức mạnh quốc gia không chỉ nằm ở các chỉ số kinh tế mà còn khẳng định qua sức hấp dẫn văn hóa. Những quốc gia thành công trên thế giới đều sở hữu một hệ sinh thái số quảng bá văn hóa mạnh mẽ: từ Hàn Quốc với làn sóng K-content; Nhật Bản với anime, manga cho đến Trung Quốc với nền tảng văn hóa số và game. Việt Nam muốn xây dựng một thương hiệu văn hóa số vững chắc thì cần một hạ tầng đủ mạnh để kết nối dòng dữ liệu, nội dung và doanh nghiệp. Hạ tầng văn hoá số chính là nền tảng giúp phát triển thương hiệu văn hoá số Việt Nam: VietCreative và VietGames.

6. Tạo thị trường văn hóa số minh bạch

Nếu thiếu đi một hạ tầng đồng bộ, thị trường sẽ rất khó để xác định bản quyền; khó giao dịch tài sản số; khó chia sẻ doanh thu và bảo vệ quyền lợi của các nghệ sĩ, tác giả. Việc thiết lập hạ tầng văn hóa số cho phép hình thành cơ sở dữ liệu bản quyền; định danh tác phẩm; sàn giao dịch tài sản văn hóa số; cùng cơ chế thanh toán và phân chia lợi ích minh bạch. Đây chính là nền tảng của nền kinh tế văn hóa số.

7. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

Hạ tầng số giúp cơ quan quản lý có thể theo dõi sát sao hoạt động văn hóa theo thời gian thực; thống kê chính xác số liệu ngành công nghiệp văn hóa; đánh giá tác động của các chính sách; phân tích xu hướng tiêu dùng văn hóa và dự báo nhu cầu thị trường. Công tác quản lý lúc này dịch chuyển mạnh mẽ từ dựa vào “kinh nghiệm” sang “quản trị dựa trên dữ liệu”.

8. Bảo đảm chủ quyền văn hóa trên không gian số

Không gian mạng đang trở thành không gian văn hóa mới của nhân loại. Nếu Việt Nam không có hạ tầng của chính mình thì dữ liệu văn hóa sẽ phải nằm trên nền tảng nước ngoài; nội dung Việt Nam khó được ưu tiên; thuật toán nước ngoài sẽ quyết định khả năng tiếp cận của người dùng; dẫn đến nguy cơ lệ thuộc về dữ liệu và lan truyền các giá trị ngoại lai. Do đó, làm chủ hạ tầng là then chốt để bảo vệ chủ quyền văn hóa của chúng ta trên internet.






Nhằm tối ưu hóa hiệu quả của hạ tầng văn hóa số và khơi thông các nguồn lực, Nghị định cũng đưa ra các cơ chế, chính sách hỗ trợ mạnh mẽ nhằm thu hút nguồn vốn xã hội hóa và đầu tư phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số. Các doanh nghiệp công nghệ tham gia phát triển hạ tầng sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi tối đa theo quy định pháp luật. 

Đồng thời, các Trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa sẽ được thành lập và công nhận, đặt trong các cụm/khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, các cơ sở giáo dục đại học hoặc trung tâm văn hóa địa phương. Vận hành theo phương thức hợp tác chặt chẽ giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp, các trung tâm này sẽ đóng vai trò tập hợp, điều phối, hướng dẫn, hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp và phát triển cộng đồng người sáng tạo nội dung số bản địa.

Tùy theo thực tế, trung tâm được tổ chức theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập, mô hình doanh nghiệp hoặc các mô hình hợp pháp khác để thực hiện các chức năng cốt lõi: sáng tạo nội dung số bản sắc, thiết lập không gian văn hóa cộng đồng, hỗ trợ khởi nghiệp và thúc đẩy xúc tiến thương mại. Để tối ưu hóa hiệu quả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành bộ chỉ số tự đánh giá, định kỳ hằng năm tôn vinh các mô hình điển hình, hướng tới hình thành và phát triển mạnh mẽ Mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa quốc gia. Sự đồng lòng và cộng hưởng này hứa hẹn sẽ đưa các giá trị truyền thống thấm sâu vào môi trường số, biến nguồn tài nguyên văn hóa quý báu của cha ông thành động lực phát triển kinh tế sáng tạo mạnh mẽ và bền vững trong tương lai./. 

 

CTTĐT BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH.

09/09/2026
Trong tháng 8-2026, Việt Nam đón gần 2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 19,7% so với tháng 7 và tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 8 tháng đầu năm, lượng khách quốc tế đạt gần 16 triệu lượt, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước, hoàn thành 63,6% kế hoạch năm 2026.
09/09/2026
Góp ý Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia “Khách sạn - Xếp hạng”, Đà Nẵng đề xuất giảm các yêu cầu mang tính hình thức, tăng tính linh hoạt theo từng mô hình lưu trú, đồng thời bổ sung các tiêu chí về chất lượng dịch vụ, trải nghiệm, môi trường và bản sắc địa phương.
09/09/2026
Tỉnh Đắk Lắk đang triển khai đề án đưa Công viên địa chất Phú Yên hướng tới gia nhập Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO. Để biến tiềm năng trở thành động lực phát triển, địa phương cần bảo tồn các giá trị địa chất, thiên nhiên, văn hóa gắn với phát triển du lịch và sinh kế cộng đồng.
09/09/2026
Sau khi đoàn tàu du lịch “Phong Nha - Cố đô Huế: Hành trình Di sản thế giới” chính thức vận hành, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị tiếp tục yêu cầu các sở, ngành, địa phương và đơn vị liên quan triển khai đồng bộ các nhiệm vụ nhằm nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm.
09/09/2026
Gần đây, du lịch Đồng Nai đã có những khởi sắc khi các sản phẩm được xây dựng và phát triển trên cơ sở phát huy cả những thế mạnh sẵn có và phát triển sản phẩm mới, tạo sự đột phá về sản phẩm du lịch đặc trưng, đáp ứng nhu cầu thị trường du khách trong nước và quốc tế.
09/09/2026
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, là một động lực tăng trưởng mới của đất nước. Để hiện thực hóa định hướng này, ngành Du lịch đứng trước yêu cầu chuyển mạnh từ phát triển dựa vào số lượng sang chất lượng, tăng giá trị và sức cạnh tranh, đồng thời chú trọng phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
09/09/2026
Chính phủ hướng tới mục tiêu tạo chuyển biến mạnh mẽ về tư duy và phương thức phát triển du lịch theo chiều sâu, chất lượng, bền vững và tạo giá trị gia tăng cao.
09/09/2026
(TITC) - Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam vừa ban hành Quyết định số 356/QĐ-CDLQGVN ban hành Kế hoạch của Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam thực hiện Kế hoạch của Bộ VHTTDL triển khai thực hiện Chỉ thị số 24/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong hoạt động du lịch.
08/09/2026
Mở rộng hợp tác với Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long được Cà Mau xác định là hướng đi quan trọng để kết nối tour tuyến, phát triển sản phẩm đặc thù và nâng cao hiệu quả xúc tiến, quảng bá du lịch.
08/09/2026
Tây Ninh đang từng bước chuyển trọng tâm phát triển du lịch từ khai thác các điểm đến sẵn có sang xây dựng hệ sinh thái sản phẩm đa dạng, tăng trải nghiệm, kéo dài thời gian lưu trú và nâng mức chi tiêu của du khách. Đây được xác định là hướng đi quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050.
08/09/2026
Trung tâm Thông tin du lịch (Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam) vừa công bố tài liệu Thông tin du lịch tháng 8/2026, tổng hợp những nét chính về hoạt động du lịch trong tháng, kết quả ngành du lịch trong 8 tháng đầu năm, cùng các xu hướng và sự kiện đáng chú ý của du lịch Việt Nam.
08/09/2026
Theo phóng viên TTXVN tại Moskva, trang tin điện tử news.ru của Nga dẫn lời đại diện Bộ Phát triển kinh tế Liên bang Nga đưa ra dự báo đầy lạc quan về triển vọng tăng trưởng của du lịch Việt Nam, dự kiến lượng du khách Nga đến Việt Nam trong cả năm 2026 có thể đạt mức kỷ lục lịch sử là 1,5 triệu lượt người.
song3