Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch
Trường cao đẳng du lịch hà nội
Việt Nam English
27/06/2026

Mô hình “1+34+N” khai thác dữ liệu và AI để tạo động lực mới cho tăng trưởng của ngành du lịch

Toàn cảnh buổi họp (Ảnh: VGP/Nhật Bắc)

Sự phân tán của dữ liệu đòi hỏi một mô hình kết nối hiệu quả với vai trò dẫn dắt của Trung ương

Theo Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng, năm 2026, du lịch Việt Nam đặt mục tiêu đón 25 triệu lượt khách quốc tế và phục vụ trên 150 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ du lịch đạt 1,1 triệu tỉ đồng, đóng góp vào tăng trưởng dịch vụ, tạo sinh kế cho hàng triệu lao động.

Thực trạng số liệu của ngành cho thấy thời gian lưu trú bình quân, mức chi tiêu và tỷ lệ khách quốc tế quay trở lại Việt Nam vẫn còn hạn chế so với nhiều quốc gia khác. Điều này cho thấy dư địa gia tăng giá trị trên mỗi du khách còn rất lớn. Để giải quyết bài toán này, điều kiện tiên quyết là phải có dữ liệu số để hiểu du khách một cách đầy đủ và có khả năng điều hướng du khách theo “thời gian thực”.

Nỗ lực phát triển dữ liệu số du lịch quốc gia thời gian qua là đáng ghi nhận. Việt Nam đang sở hữu nguồn dữ liệu rất lớn được hình thành từ hoạt động xuất nhập cảnh, lưu trú, hàng không, vận tải, thanh toán, viễn thông, thương mại điện tử và các nền tảng số. Tuy nhiên, dữ liệu số du lịch chưa đạt yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Điểm nghẽn lớn nhất hiện này là dữ liệu vẫn còn phân tán ở nhiều cơ quan, địa phương và doanh nghiệp, chưa được kết nối và khai thác hiệu quả để phục vụ công tác quản lý, dự báo, xúc tiến thị trường và phát triển sản phẩm du lịch.

Giải quyết bài toán này cần một cách tiếp cận mới, phát huy vai trò định hướng, dẫn dắt của Trung ương và sự chủ động, sáng tạo của địa phương, đồng thời tận dụng lợi thế của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp để rút ngắn đầu mối quản lý, tăng tính chủ động trong cập nhật, chia sẻ và khai thác dữ liệu du lịch tại địa phương.

Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng phát biểu tham luận tại phiên họp (Ảnh: VGP/Nhật Bắc)

Hình thành hệ sinh thái dữ liệu du lịch quốc gia theo mô hình“1+34+N”

Để khắc phục tình trạng này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề xuất xây dựng hệ sinh thái dữ liệu du lịch quốc gia theo mô hình “1+34+N”. Trong đó:

“1” là Nền tảng dữ liệu du lịch quốc gia, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giữ vai trò định hướng, điều phối, chủ trì phát triển và vận hành hệ sinh thái ứng dụng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực du lịch; tổ chức kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả các nguồn dữ liệu phục vụ phát triển du lịch trên cơ sở đồng bộ với Trung tâm Dữ liệu Quốc gia, cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

“34” là dữ liệu tại 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trực tiếp phát triển, cập nhật và chia sẻ dữ liệu du lịch địa phương, hình thành hệ sinh thái du lịch số gắn với đặc thù từng địa phương.

“N” là các bộ, ngành, doanh nghiệp và tổ chức liên quan cùng tham gia kết nối, chia sẻ và làm giàu dữ liệu để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ và giá trị mới cho ngành du lịch.

Mô hình hướng tới hình thành các bộ dữ liệu lõi về du khách quốc tế, dòng khách du lịch và trải nghiệm du khách, tạo nền tảng xây dựng hồ sơ du khách số, nâng cao năng lực dự báo, điều hành và cá nhân hóa dịch vụ. Đồng thời, dữ liệu được kết nối và khai thác hiệu quả sẽ mở ra không gian phát triển mới cho doanh nghiệp công nghệ du lịch và khu vực kinh tế tư nhân.

Bộ VHTTDL đề xuất triển khai theo nguyên tắc: Trung ương xây dựng nền tảng dùng chung, địa phương tổ chức phát triển, cập nhật và khai thác dữ liệu tại chỗ, doanh nghiệp tham gia kết nối và phát triển dịch vụ trên dữ liệu được chuẩn hoá.

Cách làm này nhằm bảo đảm dữ liệu du lịch được hình thành từ thực tiễn, được cập nhật thường xuyên, phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý, điều hành và phát triển sản phẩm du lịch. Đồng thời tránh đầu tư dàn trải hoặc hình thành thêm các hệ thống riêng lẻ, thiếu kết nối.

Theo lộ trình triển khai, giai đoạn 2026 - 2027 tập trung kết nối các nguồn dữ liệu phân tán giữa bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp để hình thành hệ thống dữ liệu lõi. Các địa phương sẽ chuẩn hóa, cập nhật dữ liệu du lịch, kết nối dữ liệu từ doanh nghiệp, thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý điểm đến và nâng cao các chỉ số về thời gian lưu trú, mức chi tiêu và tỷ lệ khách quay trở lại. Một số địa phương có hạ tầng số tốt và lượng khách lớn sẽ được lựa chọn triển khai trước để đánh giá và nhân rộng.

Giai đoạn từ năm 2027 trở đi, Bộ VHTTDL tiếp tục hoàn thiện mô hình dùng chung, ban hành các tiêu chuẩn dữ liệu, cơ chế chia sẻ và khai thác dữ liệu, đồng thời mở rộng triển khai trên phạm vi toàn quốc. Song song với đó, thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp du lịch và các nền tảng số trong việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.

Việc xây dựng hệ sinh thái dữ liệu du lịch quốc gia theo mô hình “1+34+N” không chỉ tạo lập nền tảng dữ liệu dùng chung cho toàn ngành, mà còn mở ra một phương thức phát triển mới cho ngành du lịch trong kỷ nguyên số. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu của tăng trưởng, việc phát triển hệ sinh thái dữ liệu du lịch quốc gia sẽ góp phần biến dữ liệu thành nguồn lực sản xuất mới, trí tuệ nhân tạo thành công cụ nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh, tạo bước chuyển căn bản trong quản trị, phát triển thị trường và nâng cao chất lượng trải nghiệm du khách.

Đây cũng là bước cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng của du lịch từ dựa trên khai thác tài nguyên sang dựa trên dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Trung tâm Thông tin du lịch

song3