Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch
Trường cao đẳng du lịch hà nội
Việt Nam English
04/11/2025

Tổng kết một số kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường cao đẳng Du lịch Hà Nội năm 2020

Thực hiện sự chỉ đạo và hỗ trợ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của Nhà trường năm 2020, Nhà trường đã tổ chức xét tuyển và lựa chọn triển khai thực hiện 03 đề tài NCKH cấp Trường.  

Mặc dù hoạt động NCKH chịu những ảnh hưởng do dịch bệnh Covid-19 gây ra, 03 đề tài NCKH cấp trường đã được lựa chọn và triển khai theo quyết định của Hội đồng xét duyệt thuyết minh đề tài theo hình thức chấm điểm đánh giá, đã được triển khai nghiêm túc, đảm bảo đúng tiến độ của đề tài. Đề tài đã linh hoạt trong điều kiện mới, khi vận dụng các hình thức lấy số liệu như: khảo sát online, qua email đối với sinh viên và doanh nghiệp.

Dưới đây là một số nội dung nổi bật của các đề tài NCKH năm 2020:

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, bảo vệ môi trường là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với mọi cư dân trên trái đất. Giáo dục bảo vệ môi trường cần được đẩy mạnh hơn nữa ở mọi cấp học, đặc biệt là đối với các cơ sở đào tạo, trong đó có trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, nơi đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch, họ cũng chính là những nhân tố tham gia tích cực và tuyên truyền bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch; bảo vệ cảnh quan, thiên nhiên; giữ gìn các chuẩn mực xã hội, giá trị văn hóa trong giao tiếp, ứng xử hướng tới phát triển du lịch bền vững. Từ lý do đó, nhóm nghiên cứu đề tài do Ths. Nguyễn Thị Thanh Hương -  giảng viên Khoa Kiến thức cơ bản và Cơ sở ngành đã lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp trong giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội” với mục đích nghiên cứu nhằm: Làm rõ cơ sở lý luận của hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên; Đánh giá thực trạng hoạt động bảo vệ môi trường và thực trạng công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội; Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động này tại Nhà trường trong thời gian tới.

Nhóm đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp hồi cứu, phương pháp thống kê kế toán, phương pháp định tính, phương pháp phỏng vấn, điều tra đối với cán bộ, giáo viên và sinh viên hệ cao đẳng của Nhà trường trong năm học 2019 – 2020…, nhóm nghiên cứu đã hệ thống hóa được một số kết quả từ các đề tài, ấn phẩm xuất bản, các bài báo … có liên quan, từ đó đã đúc rút ra một bài học kinh nghiệm phục vụ cho nghiên cứu.

Qua quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã vận dụng một số lý luận cơ bản về giáo dục bảo vệ môi trường đối với sinh viên, trên cơ sở làm rõ nội hàm một số khái niệm như: môi trường, môi trường du lịch, ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường, giáo dục bảo vệ môi trường, chỉ ra được cấu trúc hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên về chủ thể và đối tượng, mục đích, nội dung, hình thức và phương pháp, phương tiện giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên. Đồng thời, tập trung làm rõ sự cần thiết của giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên tại các cơ sở đào tạo du lịch, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường, vai trò của sinh viên ngành du lịch đối với bảo vệ môi trường.

Nhóm nghiên cứu cũng đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu để rút ra một số kinh nghiệm trong giáo dục bảo vệ môi trường ở một số trường đại học trong nước. Chú trọng đảm bảo lồng ghép các môn về giáo dục môi trường vào chương trình đào tạo với thời lượng đủ tổ chức các hoạt động thực tiễn cho sinh viên để giúp liên hệ giữa kiến thức và tình hình thực tế của việc bảo vệ môi trường. Vì vậy, việc rút ra kinh nghiệm từ những cơ sở này đối với Nhà trường cũng đặt ra những thách thức không nhỏ.

Chương 2, nhóm nghiên cứu đã nêu một số thực trạng trong công tác bảo vệ môi trường cho sinh viên tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội. Đề tài nhìn nhận dưới góc độ tâm lý, nhận thức để phân tích, tổng kết kết quả khảo sát về nhận thức chung về bảo vệ môi trường tại Trường, bao gồm: đánh giá về nhận thức của sinh viên về mức độ ô nhiễm môi trường hiện nay; phân tích mức độ quan tâm đến hoạt động bảo vệ môi trường của cán bộ giáo viên và sinh viên, đánh giá sự cần thiết bảo vệ môi trường, mức độ thương xuyên tham gia hoạt động bảo vệ môi trường của sinh viên và của giáo viên, tổng hợp đánh giá của cán bộ giáo viên về cách bài trí không gian, cảnh quan chung trong Trường, đánh giá của cán bộ, giáo viên và sinh viên về vệ sinh môi trường trong trường; đánh giá thực trạng sử dụng phương tiện để chứa đựng sản phẩm mang đi của sinh viên, đánh giá mức độ thực hành hành vi bỏ rác đúng nơi quy định của sinh viên, mức độ thực hiện hành vi gìn giữ cảnh quan, vệ sinh môi trường của sinh viên, việc tiết kiệm điện, nước, đánh giá mức độ thực hiện hành vi tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, đánh giá việc tổ chức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên, đánh giá các hình thức giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên, … Qua đó, đánh giá được thực trạng bảo vệ môi trường tại Trường, thực trạng công tác giáo dục môi trường, nêu lên những ưu điểm và hạn chế trong giáo dục bảo vệ môi trường trong Nhà trường. Thông qua phân tích các số liệu, nhóm nghiên cứu đã đưa ra nhận định “Để tạo ra sự đồng nhất trong nhận thức cũng như hành động bảo vệ môi trường cho sinh viên trong Nhà trường, trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội đã có nhiều hình thức giáo dục bảo vệ cho sinh viên. Tuy nhiên, các hình thức và nội dung giáo dục bảo vệ môi trường mới bước đầu ở mức độ hướng dẫn các hành vi thông thường. Yêu cầu đặt ra với nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cần bám sát yêu câu thực tiễn từng thời kỳ và bám sát yêu cầu của lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn mà sinh viên đang được đào tạo.”

Trên cơ sở tổng hợp lý luận ở chương 1 và phân tích thực trạng ở chương 2, nhóm nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên tại Trường trong chương 3 với 05 nhóm giải pháp cụ thể: đối với chủ thể giáo dục bảo vệ môi trường là sinh viên đặt vào vị trí trung tâm; Các giải pháp về nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên; Các giải pháp về hình thức, phương pháp, phương tiện giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên; Các giải pháp về điều kiện đảm bảo cho công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên; Các giải pháp nhằm nâng cao khả năng tự rèn luyện ý thức bảo vệ môi trường của sinh viên.

Về nhóm giải pháp đối với chủ thể giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên, nhóm tác giả nhấn mạnh: Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng ủy và sự quản lý của Nhà trường đối với hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên; Phát huy vai trò và nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên Nhà trường về bảo vệ môi trường.

Về nhóm giải pháp liên quan nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên: Trên cơ sở định hướng phát triển của Ngành và của Nhà trường trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu cho rằng: Cần bổ sung vào chương trình đào tạo một số môn học có kiến thức chuyên sâu về môi trường như: môi trường và bảo vệ môi trường, con người và môi trường, du lịch sinh thái… đây là những môn học mà nhiều trường có chuyên ngành Du lịch đã lựa chọn đưa vào chương trình đào tạo; Xác định các môn học trên lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường sẽ đặt mức độ ưu tiên; Đưa chủ đề giáo dục bảo vệ môi trường gắn với hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.

            Về nhóm giải pháp liên quan đến hình thức, phương pháp, phương tiện giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số hình thức như: Tổ chức các hoạt động giữ gìn vệ sinh môi trường trong khuôn viên Nhà trường; Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về môi trường (Thi tìm hiểu về môi trường, Thi tiểu phẩm tuyên truyền giáo dục bảo vệ môi trường …); Tổ chức tìm hiểu thực trạng về cảnh quan môi trường, bảo vệ môi trường tại các địa phương và các điểm du lịch; Tổ chức các chiến dịch môi trường. Nhóm đề xuất một số cách thức triển khai như: Sử dụng phương pháp tuyên truyền, Phương pháp trực quan, phương pháp thực tiễn. Về phương tiện, nhóm nghiên cứu đề xuất với Nhà trường cần ưu tiên sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, với mỗi hình thức, phương pháp giáo dục khác nhau thì yêu cầu sử dụng phương tiện giáo dục khác nhau để hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên đạt hiệu quả.

            Với nhóm giải pháp về lan tỏa cho công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên, nhóm nghiên cứu đề xuất cần: Tạo lập môi trường giáo dục tốt cho giáo dục bảo vệ môi trường, phát huy mặt tích cực của ý thức bảo vệ môi trường ở sinh viên; Đầu tư cơ sở vật chất xây dựng trường học xanh - sạch- đẹp- an toàn; Huy động nguồn vốn xã hội và sử dụng có hiệu quả cho hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên Trường.

Cuối cùng là nhóm giải pháp nhằm nâng cao khả năng tự rèn luyện ý thức bảo vệ môi trường của sinh viên. Qua xây dựng động cơ tích cực về bảo vệ môi trường cho sinh viên, tăng cường phát huy vai trò xung kích của sinh viên trên mặt trận tuyên truyền bảo vệ môi trường trong cộng đồng. Thông qua các bước tiến hành hội thảo cấp Khoa, cấp trường và nghiệm thu, đề tài được đánh giá đạt và chỉnh sửa theo kết luận tại mỗi cuộc họp.

Trong các chủ đề nghiên cứu năm 2020, vấn đề học tập gắn với trải nghiệm ở môi trường bên ngoài song hành hình thức học tập trong môi trường lớp học truyền thống của sinh viên Nhà trường đã được đặt ra và thu hút sự quan tâm của Nhà trường. Đặc thù của Trường cơ sở đào tạo các ngành nghề trong lĩnh vực du lịch, khách sạn, do đó sinh viên Nhà trường đòi hỏi vừa cần tích lũy được kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp vừa đảm bảo có trải nghiệm trong môi trường nghề nghiệp thực tế trong thời gian 03 năm học tập tại trường. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động này, nhóm nghiên cứu do Ths. Nguyễn Thị Phương Loan – Giảng viên Khoa Quản trị Lữ hành – Hướng dẫn làm chủ nhiệm đề tài đã lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động học tập, trải nghiệm ở môi trường học tập bên ngoài lớp học của sinh viên nghề Quản trị Lữ hành, Hướng dẫn tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội”.

Trong chương 1, đề tài đã tổng hợp được cơ bản một số nội dung cơ sở lý luận về hoạt động học tập, trải nghiệm bên ngoài lớp học của sinh viên nghề quản trị lữ hành, hướng dẫn. Cụ thể bao gồm: Tổng quan về nghề quản trị Lữ hành, hướng dẫn: chức năng và nhiệm vụ các bộ phận trong doanh nghiệp lữ hành, các yêu cầu đối với các vị trí công việc trong doanh nghiệp lữ hành; Hoạt động học tập và trải nghiệm ở môi trường bên ngoài lớp học: các khái niệm, hình thức, vai trò; một số nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động học tập, trải nghiệm ở môi trường bên ngoài lớp học của sinh viên nghề quản trị Lữ hành, hướng dẫn như: chương trình đào tạo, cách thức tổ chức thực hiện, đội ngũ giáo viên, công tác kiểm tra, đánh giá, cơ sở vật chất kỹ thuật, người học, doanh nghiệp lữ hành… Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng nêu một số kinh nghiệm học tập, trải nghiệm ở môi trường bên ngoài lớp học của một số cơ sở đào tạo du lịch trong nước và rút ra bài học cho Nhà trường. Nhìn chung, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp khá đầy đủ cơ sở lý luận, xây dựng khung nghiên cứu cho phân tích thực trạng ở chương 2, chia sẻ và tập hợp những bài học kinh nghiệm có tính khả thi đối với Nhà trường.

Trong chương 2, nhóm nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng hoạt động học tập, trải nghiệm ở môi trường bên ngoài lớp học của sinh viên nghề quản trị lữ hành, hướng dẫn tại Trường. Trong đó bao gồm: Thực trạng đào tạo nghề Quản trị Lữ hành, Hướng dẫn tại trường như: chương trình đào tạo nghề Quản trị Lữ hành, hướng dẫn và cách thức tổ chức quản lý đào tạo, đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy, công tác kiểm tra, đánh giá, cơ sở vật chất kỹ thuật, người học, quan hệ giữa doanh nghiệp lữ hành và nhà trường…; Thực trạng về hoạt động học tập và trải nghiệm ở bên ngoài môi trường lớp học của sinh viên nghề Quản trị Lữ hành, Hướng dẫn tại trường và đánh giá về thực trạng này. Nhóm nghiên cứu công bố số liệu về khảo sát của các đối tượng sinh viên, giáo viên, doanh nghiệp, như: đánh giá của doanh nghiệp lữ hành về kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp của sinh viên nghề quản trị Lữ hành, hướng dẫn của trường, Đánh giá của sinh viên và giáo viên về chất lượng dịch vụ vận chuyển, lưu trú, ăn uống trong các chương trình thưc tế tuyến điểm …

Có thể nói, số liệu và phân tích khảo sát của nhóm tác giả đưa ra là rất đa dạng, phong phú, tuy nhiên, một số nội dung chưa thể hiện rõ được trong đánh giá thực trạng của đề tài khiến nội dung chương 2. Những nội dung đưa ra cần cụ thể lựa chọn thời lượng và một số điểm đi trải nghiệm học tập hay đi sâu phân tích tính hiệu quả của công tác tổ chức quản lý hoạt động học tập trải nghiệm.

Trong chương 3, nhóm tác giả đã đưa ra những giải pháp nâng cao hoạt động học tập, trải nghiệm ở môi trường bên ngoài lớp học của sinh viên nghề quản trị Lữ hành, hướng dẫn tại Nhà trường. Trên cơ sở định hướng đào tạo nghề Quản trị Lữ hành, Hướng dẫn tại Trường, nhóm đã đưa ra 08 giải pháp bao gồm: Xây dựng chương trình đào tạo nghề Quản trị Lữ hành, Hướng dẫn theo hướng chú trọng hoạt động học tập và trải nghiệm môi trường bên ngoài lớp học, trong đó yêu cầu dành nhiều hơn thời lượng cho các môn học thực tế tuyến điểm;  Đổi mới phương thức tổ chức thực hiện hoạt động học tập và trải nghiệm môi trường bên ngoài lớp học; Xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới trong đào tạo; Tăng cường công tác kiểm tra giám sát hoạt động học tập và trải nghiệm; Bổ sung và chuẩn hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác học tập, trải nghiệm ở môi trường bên ngoài lớp học; Đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác giữa Nhà trường và Doanh nghiệp Lữ hành; Đa dạng hóa các hình thức học tập, trải nghiệm ở môi trường bên ngoài lớp học cho sinh viên; Nâng cao ý thức chủ động cho sinh viên trong việc tự học tập, trải nghiệm bên ngoài môi trường lớp học.

Hội đồng đánh giá đề tài là sản phẩm công phu thể hiện sự nghiêm túc của nhóm nghiên cứu, tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cũng cần chỉnh sửa theo sát vào từ khóa của đề tài, lựa chọn nội dung phù hợp và có tính khả thi áp dụng đối với Nhà trường, có thể mạnh dạn xây dựng chương trình ngoại khóa tự nguyện hay thiết kế thành một module riêng dành cho những sinh viên có quan tâm.

          Đề tài thứ 3 được đưa vào nghiên cứu trong năm 2020 có chủ đề “Giải pháp tăng cường thực hành giao tiếp ngoại ngữ cho sinh viên ngành Kỹ thuật chế biến món ăn Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội” do Ths. Lê Thu Hà – giảng viên Khoa Ngoại ngữ Du lịch làm chủ nhiệm đề tài.

Tiếp nối mạch đề tài của Khoa Ngoại ngữ Du lịch trong những năm gần đây, đề tài nghiên cứu tiếp cận vấn đề trăn trở của Khoa và của Nhà trường liên quan đến nâng cao kỹ năng thực hành giao tiếp ngoại ngữ cho sinh viên Nhà trường, đối tượng áp dụng là sinh viên ngành kỹ thuật chế biến món ăn. Đề tài được tiếp cận theo hướng nghiên cứu truyền thống với 03 chương.

Chương 1, nhóm tác giả đề cập tới cơ sở lý luận và thực tiễn về tăng cường thực hành giao tiếp trong giảng dạy ngoại ngữ, bao gồm: các khái niệm cơ bản về thực hành giao tiếp, thực hành giao tiếp trong giảng dạy ngoại ngữ, tầm quan trọng của việc tăng cường thực hành giao tiếp trong giảng dạy ngoại ngữ, các yêu cầu đảm bảo việc tăng cường thực hành giao tiếp trong giảng dạy ngoại ngữ như: Mục tiêu giảng dạy thực hành giao tiếp, nội dung giảng dạy thực hành giao tiếp, phương pháp giảng dạy trong thực hành giao tiếp, cơ sở vật chất, phương tiện dạy học, năng lực đội ngũ giáo viên dạy nghề, đánh giá kết quả học tập theo năng lực. Nhóm nghiên cứu cũng đã tổng hợp và đưa ra một số bài học kinh nghiệm tăng cường thực hành giao tiếp trong giảng dạy ngoại ngữ tại một số trường như: Trường Trung cấp Kinh tế - Du lịch Hoa Sữa, Trường Cao đẳng nghề Du Lịch Hải Phòng, Trường Cao đẳng Du lịch và Thương mại Hải Dương, Trường Trung cấp nghề Du lịch Hà Nội. Có thể nói chương 1 đã tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản cần thiết để thiết lập khung nghiên cứu cho đề tài, tuy nhiên việc lựa chọn bài học kinh nghiệm cần cụ thể hơn, nên lựa chọn những trường có những kinh nghiệm thực sự đáng học hỏi, bên cạnh đó, những bài học rút ra cần có liên kết với những nội dung đã đưa ra ở mỗi trường.

Trong chương 2, nhóm nghiên cứu đã phân tích thực trạng việc tăng cường thực hành giao tiếp  ngoại ngữ cho sinh viên ngành kỹ thuật chế biến món ăn tại trường. Đề tài đã khái quát được công tác giảng dạy ngoại ngữ cho sinh viên ngành Kỹ thuật chế biến món ăn tại Trường, trong đó nêu ra một số vấn đề: đặc thù riêng của sinh viên khoa chế biến học ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành, trình độ ngoại ngữ đầu vào đa dạng và không đồng đều, chất lượng đầu vào  thấp, tập bài giảng ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành chưa được biên soạn một cách có hệ thống, giáo viên chưa được đào tạo một cách bài bản để dạy ngoại ngữ chuyên ngành, chưa xử lí đúng mối quan hệ giữa mục đích, động cơ, nhu cầu và mong muốn học ngoại ngữ của sinh viên ngành chế biến, thiếu cơ chế khuyến khích dạy - học chuyên môn bằng ngoại ngữ, chương trình đào tạo ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành chưa theo hướng ứng dụng và mở, phương pháp đánh giá trong thực hành giao tiếp ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành còn mang tính chủ quan, tự đánh giá.

Nhóm tác giả cũng tổng hợp kết quả khảo sát về thực trạng thực hành giao tiếp ngoại ngữ của sinh viên ngành Kỹ thuật chế biến món ăn, thông qua các đánh giá về mục tiêu giảng dạy thực hành giao tiếp ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành; nội dung giảng dạy trong thực hành giao tiếp ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành; Thời lượng thực hành giao tiếp ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành; Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ dạy học ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành; Phương pháp giảng dạy trong thực hành giao tiếp ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành; Trình độ kỹ năng nghề của giáo viên; và phương pháp đánh giá trong thực hành giao tiếp ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành. Kết quả này được thu thập số liệu điều tra từ các đối tượng như: sinh viên, cán bộ, giáo viên Nhà trường và các doanh nghiệp có tiếp nhận sinh viên của Nhà trường. Nhóm nghiên cứu cũng đã đánh giá chung về thực trạng việc tăng cường thực hành giao tiếp ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành cho sinh viên ngành Kỹ thuật chế biến món ăn của Nhà trường, trong đó nêu ra những điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức đối với Nhà trường.

Trong chương 3, nhóm tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp tăng cường thực hành giao tiếp ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành cho sinh viên ngành Kỹ thuật chế biến món ăn trên cơ sở những định hướng của khoa và của Nhà trường.

Một là, xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành - ngành kỹ thuật chế biến món ăn theo hướng ứng dụng và hướng mở, để thực hiện giải pháp này nhóm nghiên cứu đưa ra 08 biện pháp.

Hai là, Đổi mới phương pháp giảng dạy trong thực hành giao tiếp ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành theo hướng tiếp cận của nghề, trong đó nhóm đề xuất 8 biện pháp để hiện thực hóa giải pháp này.  

Ba là phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yều cầu tăng cường thực hành giao tiếp ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành theo hướng tích hợp ngôn ngữ, trong đó cần thực hiện 07 biện pháp mà nhóm nghiên cứu đề xuất.

Bốn là sử dụng các đồ dùng trực quan liên quan đến chuyên ngành chế biến để chuyển tải nội dung cho hoạt động giảng dạy thực hành giao tiếp ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành một cách hiệu quả. Để thực hiện giải pháp này cần thực hiện 05 biện pháp mà nhóm nghiên cứu lựa chọ đưa ra.

Giải pháp cuối cùng là đổi mới phương pháp đánh giá trong thực hành giao tiếp ngoại ngữ cơ bản và chuyên ngành theo hướng năng lực, theo nhóm nghiên cứu cần thực hiện 07 biện pháp đưa ra.

Có thể nói đề tài đã đạt được mục tiêu đề ra, Hội đồng nghiệm thu đã đánh giá đạt và cần chỉnh sửa, nhấn mạnh các giải pháp cần gắn với thực tế, chú ý giải pháp tạo động lực, hứng thú trong học tập ngoại ngữ chuyên ngành cho học sinh, sinh viên theo đặc thù của nghề Chế biến món ăn, từ đó sẽ giúp các em tiếp thu ngoại ngữ nhanh hơn.

Một số kết quả các đề tài thực hiện trong năm 2020 đã đạt nêu trên là khích lệ trong bối cảnh tình hình mới. Đây là lần đầu tiên các giảng viên này làm chủ nhiệm nhưng đã chủ động trong công tác triển khai thực hiện đề tài, đảm bảo về mặt nội dung và tiến độ của đề tài. Đây cũng là tín hiệu đáng mừng về tinh thần tích cực tham gia nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên Nhà trường. Là cơ sở, các chủ nhiệm tiếp tục có thêm bài viết, tham luận khoa học cho các hội thảo, hội nghị khoa học – công nghệ để công bố chi tiết các kết quả nghiên cứu trong thời gian tới.

Phòng Đào tạo, QLKH&HTQT

song3